Thừa kế là một chế định pháp lý quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc chuyển giao tài sản của người đã mất cho những người còn sống. Việc hiểu rõ quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam giúp các cá nhân, gia đình chủ động hơn trong việc lập kế hoạch tài sản cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến di sản thừa kế.

Hiểu rõ các hình thức thừa kế tài sản

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền thừa kế có thể được thực hiện theo hai hình thức chính: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Mỗi hình thức có những nguyên tắc và quy định riêng, xác định ai là người được hưởng di sản của người đã khuất.

Thừa kế theo di chúc

Đây là hình thức thừa kế phổ biến, trong đó người để lại tài sản (người chết) đã bày tỏ ý chí của mình về việc phân chia di sản cho một hoặc nhiều người được chỉ định trong một văn bản gọi là di chúc. Di chúc phải tuân thủ các điều kiện về hình thức và nội dung theo quy định của pháp luật để có hiệu lực. Người được chỉ định trong di chúc sẽ có quyền hưởng di sản theo ý chí của người để lại.

Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật áp dụng khi không có di chúc, di chúc không hợp pháp, hoặc chỉ định đoạt một phần di sản thừa kế. Trong trường hợp này, di sản sẽ được chia cho những người thừa kế theo hàng, theo thứ tự và điều kiện do pháp luật quy định (Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015). Các hàng thừa kế được xác định dựa trên mối quan hệ huyết thống, hôn nhân, và nuôi dưỡng. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Một điểm đặc biệt trong pháp luật thừa kế Việt Nam là sự tồn tại của những người vẫn được hưởng di sản mặc dù họ không có tên trong di chúc hoặc bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015). Những đối tượng này bao gồm: con chưa thành niên, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con thành niên mà không có khả năng lao động. Họ được hưởng một phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật. Điều này thể hiện sự bảo vệ của pháp luật đối với những đối tượng yếu thế hoặc có mối quan hệ đặc biệt với người để lại di sản.

Giải quyết tài sản thừa kế không có người nhận

Trong một số trường hợp, di sản của người đã mất có thể không có người đứng ra nhận hoặc giải quyết. Pháp luật đã có những quy định cụ thể để xử lý tình huống này, đảm bảo di sản không trở thành vô chủ và các nghĩa vụ tài sản được thực hiện.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Khi di sản không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận

Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước”. Điều này có nghĩa là nếu không có ai đủ điều kiện hoặc không ai muốn nhận di sản, sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính còn tồn đọng (như nợ, thuế…), phần tài sản còn lại sẽ thuộc về Nhà nước quản lý. Đây là cơ chế pháp lý nhằm xử lý các tài sản vô chủ phát sinh từ việc thừa kế.

Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

Pháp luật đặt ra một khoảng thời gian giới hạn để người thừa kế có thể thực hiện quyền thừa kế của mình, gọi là thời hiệu. Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người có di sản chết). Hết thời hạn này, di sản sẽ thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản, pháp luật cũng đưa ra hướng giải quyết. Nếu có người đang chiếm hữu di sản đó một cách liên tục, công khai và ngay tình, sau khi hết thời hiệu 30 năm đối với bất động sản hoặc 10 năm đối với động sản, họ có thể trở thành chủ sở hữu theo quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015). Nếu không có cả người thừa kế lẫn người chiếm hữu hợp pháp sau khi hết thời hiệu, di sản đó sẽ thuộc về Nhà nước, tương tự như trường hợp không có người nhận di sản ngay từ đầu.

Các câu hỏi thường gặp về thừa kế

Ai được thừa kế khi không có di chúc?

Khi không có di chúc, di sản sẽ được chia theo pháp luật cho những người thuộc các hàng thừa kế. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. Những người ở hàng sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước.

Có trường hợp nào vẫn được thừa kế dù không có tên trong di chúc không?

Có. Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây vẫn được hưởng một phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, ngay cả khi không được nhắc đến trong di chúc hoặc bị truất quyền hưởng di sản: con chưa thành niên, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con thành niên mà không có khả năng lao động. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi tối thiểu cho những đối tượng phụ thuộc hoặc có mối quan hệ gần gũi đặc biệt với người để lại di sản.

Tài sản không có người nhận thừa kế sẽ đi về đâu?

Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc hoặc pháp luật, hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản, sau khi thanh toán các nghĩa vụ tài sản, phần di sản còn lại sẽ thuộc về Nhà nước.

Thời gian tối đa để yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu?

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế. Sau thời hạn này, di sản sẽ thuộc về người thừa kế đang quản lý hoặc người đang chiếm hữu hợp pháp (sau khi hết thời hiệu chiếm hữu) hoặc Nhà nước nếu không có ai quản lý hay chiếm hữu.

Việc nắm vững các quy định của pháp luật về quyền thừa kế là vô cùng quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân và gia đình. Các quy định về thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, quyền hưởng di sản không phụ thuộc di chúc, và xử lý tài sản không có người nhận đã được Bộ luật Dân sự 2015 quy định khá chi tiết. Để có thông tin chuyên sâu hơn về quyền thừa kế và các vấn đề liên quan đến bất động sản hay nhà đất, bạn có thể tìm hiểu thêm tại SummerLand.

Trí An Land

Công ty Cổ phần Trí An Land được thành lập từ năm 2015. Sau gần 5 năm hình thành và phát triển, đến nay Trí An Land đã khẳng định được uy tín và năng lực cạnh tranh hàng đầu trong ngành tư vấn, phân phối Bất động sản tại Việt Nam.. Với tôn chỉ hoạt động: Trọn chữ TÍN, vẹn niềm TIN, chúng tôi đã nỗ lực trở thành kênh tư vấn tin cậy, mang đến cho khách hàng những dự án, sản phẩm đầu tư chất lượng và tiềm năng sinh lời cao nhất.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *