Việc sở hữu bất động sản chung giữa nhiều người ngày càng phổ biến tại Việt Nam. Điều này đặt ra câu hỏi về thủ tục pháp lý, đặc biệt là quy trình cấp sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất) cho những trường hợp có nhiều người chung quyền sử dụng đất. Hiểu rõ các nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận theo Luật Đất đai 2024 là vô cùng quan trọng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho tất cả các bên sở hữu chung tài sản này.
Nguyên tắc chung về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo Luật Đất đai 2024, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thường được cấp theo từng thửa đất cụ thể. Việc cấp này áp dụng cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi họ có nhu cầu và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của luật pháp hiện hành. Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm đảm bảo tính pháp lý rõ ràng cho từng thửa đất và tài sản trên đó.
Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định linh hoạt cho trường hợp người sử dụng đất đang quản lý nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một địa bàn hành chính cấp xã (xã, phường, thị trấn). Nếu người sử dụng đất có yêu cầu gộp chung, họ có thể được cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất duy nhất cho tất cả các thửa đất nông nghiệp đó. Điều này giúp đơn giản hóa việc quản lý giấy tờ cho người sử dụng đất canh tác trên nhiều khu đất nhỏ lẻ gần nhau.
Giải pháp cấp sổ đỏ cho thửa đất có nhiều chủ sở hữu
Đối với những thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, hoặc có nhiều người sở hữu chung tài sản gắn liền với đất, Luật Đất đai 2024 đưa ra hai phương án cấp Giấy chứng nhận nhằm đáp ứng nhu cầu và thỏa thuận của các bên liên quan.
Một phương án là cấp cho mỗi người một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất riêng biệt. Việc cấp sổ đỏ riêng lẻ này giúp cá thể hóa quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản của từng cá nhân hoặc tổ chức trong số những người đồng sở hữu. Mỗi Giấy chứng nhận sẽ ghi rõ phần quyền mà người đó sở hữu chung trên thửa đất hoặc tài sản đó.
Phương án thứ hai áp dụng khi những người có chung quyền sử dụng đất, chung quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thống nhất và có yêu cầu được cấp chung một Giấy chứng nhận. Trong trường hợp này, chỉ một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được phát hành. Trên Giấy chứng nhận này sẽ ghi đầy đủ tên của tất cả những người có chung quyền. Giấy chứng nhận chung này sau đó sẽ được trao cho người đại diện theo ủy quyền hoặc thỏa thuận của các bên sở hữu chung tài sản.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Màn hình laptop không cảm ứng được Win 10: Nguyên nhân & Cách khắc phục
- Hướng dẫn cài Win Server 2012 R2 Full Crack và Active Vĩnh Viễn
- Bản đồ check quy hoạch Đông Hải 2: Tiềm năng phát triển bền vững
- Heroes Infinity Mod APK Free Shopping – Tải Hack Full Tiền, Kim Cương Miễn Phí
- Bản Hack FE4 Full Thánh Khí: Link Tải + Hướng Dẫn Cài Đặt Chi Tiết
.jpg)
Điều kiện hoàn thành nghĩa vụ tài chính khi cấp sổ đỏ
Một nguyên tắc quan trọng khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là việc hoàn thành nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất hoặc chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất. Thông thường, sổ đỏ chỉ được cấp sau khi các nghĩa vụ này đã được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ tài chính ở đây bao gồm các khoản thuế liên quan đến đất đai, lệ phí trước bạ và các khoản phí, lệ phí khác theo quy định.
Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định các trường hợp ngoại lệ. Giấy chứng nhận vẫn có thể được cấp cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nếu họ không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính, hoặc thuộc trường hợp được miễn giảm, hoặc được ghi nợ theo quy định. Đối với các trường hợp này, Giấy chứng nhận sẽ được cấp sau khi cơ quan có thẩm quyền xác nhận chính thức về việc không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc đã được miễn, ghi nợ. Riêng với trường hợp thuê đất mà hình thức trả tiền thuê là trả tiền thuê đất hàng năm, Giấy chứng nhận sẽ được cấp sau khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định cho thuê đất và các bên đã ký hợp đồng thuê đất theo quy định.
Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất
Luật Đất đai 2024 có quy định riêng về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong một số trường hợp người sử dụng đất thực hiện việc tặng cho. Các trường hợp cụ thể được đề cập bao gồm việc tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, tặng cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng (như nhà văn hóa, sân chơi…), hoặc tặng cho để mở rộng đường giao thông theo quy hoạch đã được phê duyệt.
Đặc biệt, pháp luật cũng khuyến khích và tạo điều kiện khi người sử dụng đất tặng cho quyền sử dụng đất để xây dựng các công trình mang ý nghĩa xã hội như nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết gắn liền với đất theo quy định pháp luật. Trong những trường hợp tặng cho này, Nhà nước sẽ có trách nhiệm bố trí kinh phí cần thiết để thực hiện các công việc kỹ thuật như đo đạc lại thửa đất, chỉnh lý và cập nhật hồ sơ địa chính. Đồng thời, Nhà nước cũng chịu trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất (sau khi thực hiện việc tặng cho phần đất theo thỏa thuận). Người sử dụng đất thực hiện việc tặng cho theo các mục đích trên sẽ không phải chi trả các loại chi phí liên quan đến việc đo đạc, chỉnh lý hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận cho phần diện tích đất còn lại hoặc phần đất đã tặng theo quy định.
Quy định về ghi tên vợ, chồng trên Giấy chứng nhận
Đối với quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được xác định là tài sản chung của vợ và chồng, Luật Đất đai 2024 quy định rõ ràng về cách ghi tên trên Giấy chứng nhận. Nguyên tắc chung và bắt buộc là phải ghi đầy đủ cả họ, tên của vợ và họ, tên của chồng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Điều này nhằm đảm bảo quyền sở hữu ngang bằng và minh bạch của cả hai vợ chồng đối với tài sản chung.
Tuy nhiên, pháp luật cũng mở ra một trường hợp ngoại lệ dựa trên sự thỏa thuận giữa hai vợ chồng. Nếu vợ và chồng có thỏa thuận rõ ràng về việc chỉ ghi tên một người để đứng tên làm đại diện cho cả hai trên Giấy chứng nhận, thì việc ghi tên theo thỏa thuận này sẽ được chấp nhận. Sự thỏa thuận này cần được lập thành văn bản và tuân thủ quy định pháp luật.
Luật Đất đai 2024 cũng giải quyết vấn đề đối với các Giấy chứng nhận đã được cấp trước đây mà chỉ ghi tên một trong hai người (vợ hoặc chồng) đối với tài sản chung của vợ và chồng. Nếu cả hai vợ chồng có yêu cầu, họ sẽ được thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mới. Trên Giấy chứng nhận cấp đổi này sẽ được ghi tên đầy đủ của cả vợ và chồng, đảm bảo phản ánh đúng tình trạng sở hữu chung tài sản theo quy định hiện hành.
Thủ tục cấp sổ đỏ đối với quyền sử dụng đất của hộ gia đình
Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình (trong bối cảnh các thành viên có chung quyền sử dụng đất), Luật Đất đai 2024 đưa ra hai lựa chọn về cách ghi tên trên Giấy chứng nhận.
Lựa chọn thứ nhất là cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và trên đó ghi đầy đủ tên của tất cả các thành viên được xác định là có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình đó. Giấy chứng nhận này sau đó sẽ được trao cho người đại diện của hộ gia đình do các thành viên cử hoặc thỏa thuận.
Lựa chọn thứ hai, nếu các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình có nhu cầu và thống nhất, họ có thể yêu cầu cấp một Giấy chứng nhận chỉ ghi tên đại diện hộ gia đình trên Giấy chứng nhận đó. Trong trường hợp này, Giấy chứng nhận cũng được trao cho người đại diện.
Việc xác định cụ thể những thành viên nào của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất để ghi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là do chính các thành viên này tự thỏa thuận với nhau. Sự thỏa thuận này cần đảm bảo tính chính xác và các thành viên phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung và kết quả của sự thỏa thuận đó. Điều này nhấn mạnh vai trò tự chủ của các thành viên hộ gia đình trong việc quyết định ai sẽ được công nhận quyền sử dụng đất và cách thể hiện quyền đó trên Giấy chứng nhận.
Hiểu rõ các quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặc biệt trong trường hợp đất có nhiều chủ sở hữu chung, vợ chồng hoặc hộ gia đình là điều cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình. Những nguyên tắc này theo Luật Đất đai 2024 nhằm minh bạch hóa quá trình và đảm bảo tính pháp lý cho tài sản bất động sản. Để cập nhật thêm thông tin hữu ích về nhà đất và pháp luật liên quan, hãy theo dõi SummerLand.
Câu hỏi thường gặp (FAQs)
Có phải lúc nào đất có nhiều người chung quyền cũng được cấp riêng sổ đỏ cho từng người không?
Không nhất thiết. Theo Luật Đất đai 2024, khi thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, có hai phương án cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Phương án thứ nhất là cấp riêng cho mỗi người có chung quyền một Giấy chứng nhận. Phương án thứ hai là cấp chung một Giấy chứng nhận cho tất cả những người có chung quyền, nếu họ có yêu cầu và thống nhất. Giấy chứng nhận chung này sẽ ghi đầy đủ tên của tất cả các chủ sở hữu chung tài sản và được trao cho người đại diện do các bên cử ra.
Khi sổ đỏ hộ gia đình ghi tên người đại diện, các thành viên khác có cần có mặt khi giao dịch không?
Khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình và chỉ ghi tên đại diện hộ gia đình trên Giấy chứng nhận, việc xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất đó cần tuân thủ quy định về giao dịch đối với tài sản chung. Thông thường, người đại diện sẽ thực hiện các thủ tục, nhưng việc định đoạt tài sản chung (mua bán, chuyển nhượng, thế chấp…) cần có sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình theo quy định của pháp luật.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng tôi được cấp trước đây chỉ ghi tên chồng/vợ. Giờ muốn thêm tên cả hai thì làm thế nào?
Theo quy định tại Luật Đất đai 2024, nếu quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp trước đây chỉ ghi tên một người (vợ hoặc chồng), thì vợ và chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi Giấy chứng nhận đó. Trên Giấy chứng nhận cấp đổi mới sẽ được ghi đầy đủ cả họ, tên của vợ và họ, tên của chồng, đảm bảo quyền sở hữu chung của cả hai theo quy định pháp luật hiện hành.





