Việc cho thuê bất động sản là một hoạt động phổ biến mang lại thu nhập cho nhiều cá nhân tại Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định về thuế liên quan đến hoạt động này thường gây băn khoăn cho người cho thuê. Đặc biệt, câu hỏi về nghĩa vụ nộp và kê khai thuế cho thuê tài sản dưới 100 triệu đồng mỗi năm là điều mà không ít người quan tâm. Theo các quy định hiện hành, nghĩa vụ thuế được xác định dựa trên những căn cứ pháp lý rõ ràng, giúp người cho thuê hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình dựa trên tổng doanh thu của họ.
Căn cứ pháp lý và ngưỡng doanh thu miễn thuế
Theo hướng dẫn tại Thông tư 40/2021/TT-BTC ngày 1/6/2021 của Bộ Tài chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2021, các cá nhân có hoạt động cho thuê tài sản được xem là cá nhân kinh doanh. Thông tư này quy định chi tiết về việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, bao gồm cả hoạt động cho thuê tài sản.
Điểm mấu chốt liên quan đến câu hỏi về doanh thu dưới 100 triệu đồng nằm tại Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 40/2021/TT-BTC. Quy định này nêu rõ: “Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN theo quy định pháp luật về thuế GTGT và thuế TNCN…”. Điều này khẳng định rõ rằng nếu tổng doanh thu từ cho thuê tài sản của cá nhân trong một năm dương lịch đạt mức từ 100 triệu đồng trở xuống, cá nhân đó sẽ được miễn nộp thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với khoản thu nhập này.
Cách xác định doanh thu 100 triệu đồng hàng năm
Ngưỡng doanh thu 100 triệu đồng/năm được quy định trong Thông tư 40/2021/TT-BTC là tổng doanh thu phát sinh trong một năm dương lịch từ tất cả các hợp đồng cho thuê tài sản của cá nhân đó. Điều này có nghĩa là dù cá nhân ký kết nhiều hợp đồng cho thuê tài sản với các đối tượng khác nhau (ví dụ: cho thuê nhà ở, cho thuê văn phòng, cho thuê đất…), tổng doanh thu từ tất cả các nguồn này trong năm sẽ được cộng gộp lại để xác định xem có vượt quá ngưỡng 100 triệu đồng hay không.
Trường hợp cá nhân cho thuê tài sản không phát sinh doanh thu đủ trọn vẹn 12 tháng trong năm dương lịch (ví dụ: hợp đồng bắt đầu giữa năm), mức doanh thu 100 triệu đồng để xác định việc không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN sẽ được tính theo phương pháp quy đổi doanh thu tính thuế TNCN của một năm dương lịch (12 tháng). Tức là, cơ quan thuế sẽ tính doanh thu ước tính cho 12 tháng để so sánh với ngưỡng 100 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu cá nhân đó vẫn thuộc trường hợp phải nộp thuế (tức là doanh thu quy đổi vượt 100 triệu), thì doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm chỉ là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế phát sinh hoạt động cho thuê tài sản.
Ai chịu trách nhiệm kê khai và nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê tài sản?
Mặc dù cá nhân có doanh thu cho thuê tài sản dưới 100 triệu đồng/năm không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN, nghĩa vụ kê khai thuế có thể được thực hiện bởi bên đi thuê trong một số trường hợp cụ thể. Khoản 1 và Khoản 3 Điều 8 của Thông tư 40/2021/TT-BTC quy định về trường hợp tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê tài sản.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Kiểm tra Java 64-bit
- Mua Bán Đất Thổ Cư Huyện Phong Điền: Cơ Hội Đầu Tư Hấp Dẫn
- Happy One Central: Thông Tin Mở Bán Đợt Cuối
- Eden Garden Thái Bình: Nâng tầm chuẩn sống
- Ăn gì ở Mũi Né? Đặc sản và quán ngon bạn nên thử
Theo quy định, tổ chức thuê tài sản của cá nhân có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân cho thuê. Trách nhiệm này bao gồm cả thuế GTGT và thuế TNCN, và thường phát sinh khi trong hợp đồng thuê tài sản có thỏa thuận rõ ràng bên đi thuê là người thực hiện nghĩa vụ thuế thay cho cá nhân. Tổ chức này sẽ thực hiện khấu trừ thuế (nếu có phát sinh nghĩa vụ thuế phải nộp) trước khi chi trả tiền thuê tài sản cho cá nhân. Trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay này đặc biệt được nhấn mạnh khi tổng doanh thu cho thuê tài sản mà cá nhân nhận được từ tổ chức đó trong năm dương lịch vượt quá 100 triệu đồng.
Cá nhân cho thuê tài sản có doanh thu từ nhiều nguồn khác nhau và dự kiến hoặc xác định được tổng doanh thu trong năm dương lịch sẽ vượt quá 100 triệu đồng, có thể thực hiện ủy quyền cho các tổ chức chi trả (bên đi thuê là tổ chức) thực hiện việc khai thuế thay, nộp thuế thay đối với phần doanh thu phát sinh tại đơn vị được ủy quyền trong năm tính thuế. Điều này giúp tập trung nghĩa vụ kê khai thuế và nộp thuế tại một đầu mối, tạo thuận lợi cho cả người cho thuê và cơ quan quản lý.
Cá nhân cho thuê tài sản dưới 100 triệu có phải kê khai không?
Câu hỏi liệu cá nhân có doanh thu từ cho thuê tài sản dưới 100 triệu đồng có phải nộp hồ sơ kê khai thuế hay không cần được xem xét dựa trên quy định hiện hành. Theo Thông tư 40/2021/TT-BTC, cá nhân thuộc trường hợp có doanh thu từ 100 triệu đồng trở xuống trong năm dương lịch thì không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN. Quy định này trực tiếp miễn nghĩa vụ nộp thuế đối với hai loại thuế chính cho hoạt động cho thuê tài sản ở ngưỡng doanh thu này.
Trong trường hợp tổ chức thuê tài sản của cá nhân, trách nhiệm kê khai thuế và nộp thuế thay (nếu có) thường thuộc về tổ chức đi thuê theo quy định tại Điều 8 Thông tư 40, đặc biệt khi có thỏa thuận hoặc khi doanh thu tại đơn vị vượt ngưỡng nhất định. Đối với cá nhân cho thuê cho các đối tượng khác không phải là tổ chức và tổng doanh thu của cá nhân trong năm vẫn dưới 100 triệu đồng, việc không phải nộp thuế GTGT và TNCN là rõ ràng. Tuy nhiên, các quy định chi tiết về nghĩa vụ kê khai trong mọi trường hợp khi doanh thu dưới ngưỡng này có thể cần tham khảo thêm hướng dẫn cụ thể từ cơ quan thuế địa phương để đảm bảo tuân thủ đầy đủ và chính xác.
Câu hỏi Thường Gặp (FAQs)
Cá nhân cho thuê tài sản với doanh thu bao nhiêu thì không phải nộp thuế GTGT và TNCN?
Cá nhân có tổng doanh thu từ hoạt động cho thuê tài sản trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN theo quy định của Thông tư 40/2021/TT-BTC.
Nếu tôi bắt đầu cho thuê nhà giữa năm thì ngưỡng doanh thu 100 triệu được tính thế nào?
Nếu bạn không cho thuê đủ 12 tháng trong năm, mức doanh thu 100 triệu đồng để xác định việc có phải nộp thuế hay không được tính bằng cách quy đổi doanh thu tính thuế TNCN của một năm (12 tháng).
Tổ chức thuê tài sản của tôi có trách nhiệm gì về thuế không?
Có, nếu có thỏa thuận trong hợp đồng rằng bên đi thuê sẽ nộp thuế, hoặc nếu tổng doanh thu bạn nhận được từ tổ chức đó trong năm vượt quá 100 triệu đồng, thì tổ chức đó có trách nhiệm kê khai và nộp thuế thay cho bạn đối với doanh thu đó. Bạn cũng có thể ủy quyền cho họ kê khai thay nếu tổng doanh thu của bạn từ nhiều nguồn dự kiến trên 100 triệu đồng/năm.
Tóm lại, cá nhân có doanh thu từ cho thuê tài sản dưới 100 triệu đồng mỗi năm sẽ không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN theo quy định hiện hành của Thông tư 40/2021/TT-BTC. Việc xác định nghĩa vụ cụ thể vẫn cần căn cứ vào tổng doanh thu thực tế, thời gian cho thuê và đối tượng đi thuê, đặc biệt là các quy định về trách nhiệm kê khai và nộp thuế thay của tổ chức đi thuê. Hiểu rõ các quy định này giúp cá nhân tuân thủ pháp luật thuế một cách chính xác và đầy đủ. SummerLand luôn cập nhật thông tin bất động sản hữu ích đến bạn đọc.





